Chuyển đến nội dung chính

Bài đăng

Hiển thị các bài đăng có nhãn Haruki Murakami

Vitamin Haruki

Thời mà mình mê bác Thôn Thượng Xuân Mộc, mình còn đi học và không có gì ngoài thời gian. Cảm giác này ám ảnh mình cho đến khi mình tốt nghiệp và đi làm. Mình thực ra vẫn chưa quen việc rằng giờ mình đã có thể đọc ngôn ngữ gốc mà bác viết cũng như có thể đặt hàng chúng gửi đến nhà. Với mình, đọc bác là phải đọc bằng tiếng Anh vì mình cảm thấy dịch giả đã trau chuốt nhiều ý tứ ngọc thô của bác. Mình lần đầu đọc truyện tiếng Nhật của bác là "Về việc gặp cô gái hoàn hảo 100% vào một sáng tháng Tư đẹp trời" vì rất mê truyện ấy. Nhưng phải đến cuốn Tokyo Kitanshuu (Những truyện kì bí ở Tokyo) thì mới gọi là trọn vẹn một cuốn fiction bác viết bằng tiếng Nhật (Cuốn Murakami Radio thì khó gọi là truyện được, chỉ là tản văn thôi). Nói thật là mình mua cuốn sách hồi năm 2016 mà phải đến 2018 mới đọc xong. Và mình đọc một mạch. Quay lại hiện tại thì năm 2020 mở ra và mình thì thèm Vitamin Haruki nên mình đã order một cuốn tạp chí 文学界 số tháng 12/2019 mà trong đó đăng truyện ngắn ...

.across.the.universe.

      In the spring of her twenty-second year, Sumire fell in love for the first time in her life. An intense love, a veritable tornado sweeping across the plains—flattening everything in its path, tossing things up in the air, ripping them to shreds, crushing them to bits. The tornado’s intensity doesn’t abate for a second as it blasts across the ocean, laying waste to Angkor Wat, incinerating an Indian jungle, tigers and everything, transforming itself into a Persian desert sandstorm, burying an exotic fortress city under a sea of sand. In short, a love of truly monumental proportions. The person she fell in love with happened to be 17 years older than Sumire. And was married. And, I should add, was a woman. This is where it all began, and where it all ended. Almost. — Haruki MURAKAMI, Sputnik Sweetheart Mỗi lần đọc lại đoạn này đều có cảm giác tươi mới :)

Ngày 3 tháng 12 năm 2013

1. Tiệm sách cũ mới mở trên Phạm Ngũ Lão (GV), nơi mà mình mua 3 cuốn Nhà giả kim ở đó đã chính thức dẹp tiệm. Mình còn muốn mua vài cuốn ở đó nhưng đang còn quá lười ghé vào, thế là nó dẹp luôn. Nhưng mà lý do dẹp thì đương nhiên dễ hiểu. Không liên quan nhưng mà mình tin là cái tiệm SaveMart 24/7 gần Đài liệt sỹ cũng sẽ dẹp vào một ngày đẹp trời nào đó vì lý do tương tự.  2. Trên con đường mà NK chiễm chệ toạ lạc có ít nhất một tiệm sách cũ mới mọc lên như để hồi sinh lại con đường sách cũ từng tồn tại một thời. Và trong vài tháng qua mình vắt óc / web tìm xe buýt tiện nhất để đi từ Thủ Đức ra NK thì hôm nay, quá khứ mà mình quên béng mất tiêu lại hiện lên rõ ràng rằng, hồi năm nhất mình đi xe buýt số 10.  3. Mình bắt đầu đọc A Wild Sheep Chase tiếng Anh để kết thúc năm 2013. Mình có xem qua vài dòng bản tiếng Nhật và khi đọc bản tiếng Anh khúc đầu thì mình biết ngày Birnbaum cắt cực kỳ nhiều (khúc giới thiệu về kanojo , làm thế nào anh chính biết được tin và tìm đ...

Về tiếng còi tàu hơi nước trong đêm, hay là về hiệu ứng của câu chuyện.

『夜中の汽笛について、あるいは物語の効用について』 村上春樹「夜のくもざる」  Về tiếng còi tàu hơi nước trong đêm, hay là về hiệu ứng của câu chuyện. Trích từ tập truyện cực ngắn Con khỉ nhện trong đêm ( 夜のくもざる Yoru no kumozaru ) , MURAKAMI Haruki Dịch bởi Đại tá Cá Vàng. Nguồn từ: http://itowo.tumblr.com/post/58334223656 Ngày 16/11, sửa lại vài chỗ.   女の子が男の子に質問する。 「あなたはどれくらい私のことを好き?」 少年はしばらく考えてから,静かな声で,「夜中の汽笛くらい」と答える。 少女は黙って話の続きを待つ。そこにはきっと何かお話があるに違いない。 Cô bé hỏi cậu bé. “Ấy thích tớ đến mức nào nhỉ?” Sau khi suy nghĩ một lúc, cậu bé đáp lại nhỏ nhẹ: “Như tiếng còi tàu lúc nửa đêm ấy.” Cô bé yên lặng chờ câu chuyện tiếp tục. Nhất định phải có câu chuyện gì đằng sau chứ.

Ngày 19 tháng 10 năm 2013

Về chuyện gặp cô gái 100 phần trăm vào một sáng tháng Tư đẹp trời [4]

  もちろん今では、その時彼女に向ってどんな風に話しかけるべきであったのか、僕にはちゃんとわかっている。 Chắc chắn giờ đây, tôi đã biết nên gợi chuyện như thế nào khi đến chỗ cô ấy lúc đó.

Về chuyện gặp cô gái 100 phần trăm vào một sáng tháng Tư đẹp trời [3]

「こんにちは。ほんの三十分でいいんだけれど僕と話をしてく れませんか ? 」 馬鹿げてる。 “Xin chào cô, cô vui lòng nói chuyện với tôi chỉ 30 phút thôi được không?” (Thế thì) dở người quá. まるで保険の勧誘みたいだ。 Y như lời dụ của mấy ông bán bảo hiểm.

Về chuyện gặp cô gái 100 phần trăm vào một sáng tháng Tư đẹp trời [2]

「昨日 100 パーセントの女の子と道ですれ違ったんだ」と僕は誰かに言う。 “Hôm qua tôi đã đi ngang qua cô gái một trăm phần trăm trên đường đấy,” tôi nói với ai đó. 「ふうん」と彼は答える。 “Hừm,” anh ta đáp. 

Về chuyện gặp cô gái 100 phần trăm vào một sáng tháng Tư đẹp trời [1]

4月のある晴れた朝に100パーセントの女の子に出会うことについて Về chuyện gặp cô gái 100 phần trăm vào một sáng tháng Tư đẹp trời 四月のある晴れた朝、原宿の裏通りで僕は100パーセントの女の子とすれ違う。 Vào một buổi sáng nắng đẹp tháng tư, trên một con đường hẻm sau của Shinjuku, tôi đi ngang qua cô gái một trăm phần trăm. [Haruki không dùng thì quá khứ ở đây, không dùng sở hữu cách luôn.]

「色彩を持たない多崎つくると、彼の巡礼の年」の初め

大学二年生の七月から、翌年(よくとし)の一月にかけて、多崎つくるはほとんど死ぬことだけを考えて生きていた。その間に二十歳の誕生日を迎えたが、その刻み目(きざ み め)はとくに何の意味も持たなかった。 @ 色彩を持たない多崎つくると、彼の巡礼の年 Suốt từ tháng 7 năm hai đại học đến tháng 1 năm kế tiếp, TAZAKI Tsukuru sống mà hầu như chỉ nghĩ đến việc chết. Trong khoảng thời gian ấy, dù cậu đã đón sinh nhật hai mươi tuổi của mình nhưng dấu mốc ấy lại hoàn toàn không có ý nghĩa gì đặc biệt. @ TAZAKI Tsukuru không màu và những năm hành hương của cậu

Lederhosen

Bài này được đăng lần đầu ngày 3 tháng 10 năm 2008 trên blog How To Japanese, được dịch chơi chơi và phóng túng bởi Đại tá Cá Vàng năm 2013. Haha ! Đúng là tui dịch nó chơi chơi, với lại nó không nằm trong đám tập dịch nên xin đừng bắt bẻ từ ngữ. Nguồn: http://howtojaponese.com/2008/10/03/lederhosen/ Vài tuần trước, tui có đến chơi ngày đầu tiên của Oktoberfest diễn ra trong ba ngày ở công viên Hibiya. Họ dựng lều bạt, có sân khấu cho ban nhạc của Đức và những hàng bia rất dài (Super Dry, Lowenbrau). Mất độ vài ba phút nhưng khi nhạc nổi lên, tất cả đều cực kỳ điên rồ. Tui nhìn thấy có bà mẹ to béo, đeo cái dây lưng đa zì năng van xin đứa con áng chừng học cấp ba đang ngại ngùng (và đang ngồi) nhảy múa, một đám người Mỹ say xỉn đang cố dựng kim tự tháp từ những cốc bia rỗng, và trong cả lều rất nhiều người nhảy điệu samba thành từng hàng đến điệu polka. Một đám đông người bát nháo. Tuy vậy, hết thảy đều rất Nhật Bản: tham gia từ tốn, gây nghiện cao độ và được điều hành có nguy...

In dreams begin responsibility

Nhân tiện vừa đọc qua khúc này trong bản tiếng Anh. 「僕らの責任は想像力の中から始まる。イェーツが書いている。In dreams begin the responsibilities――まさにそのとおり。逆に言えば、想像力のないところに責任は生じないのかもしれない。 」 @海辺のカフカ (上) Trách nhiệm của chúng ta bắt đầu từ khả năng tưởng tượng của mình. Yeats đã viết: "In dreams begin responsibility" (Trong những cơn mơ khởi nguồn trách nhiệm) ―― đúng như lẽ ấy . Nếu nói ngược lại, không có khả năng tưởng tượng thì có lẽ chẳng phát sinh ra trách nhiệm gì. @ Kafka bên bờ biển , cuốn thượng.

"Cuộc săn cừu hoang" trích dẫn

歌は終わった。しかしメロディーはまだ鳴り響いている。 @羊をめぐる冒険 The song has ended. But the melody is (still) lingering on. @ Hitsuji wo Meguru Bouken Khúc này của ông Cây Xuân hình như nhại theo lời ca khúc The Song is Ended của Irving Berlin. Mình thì thích bản thu của Annette Hanshaw và Frank Sinatra; họ thể hiện rất tâm trạng bài này. Còn một bản thu mà mình từng háo hức muốn nghe thử của Ella Fitzgerald hoá ra cực kỳ đáng thất vọng. Chả biết khúc này trong sách tiếng Anh và Việt dịch sao ha? Còn rất lâu nữa mình mới mua được cuốn này.

「1973年のピンボール 」クウォート

何ヶ月も何年も、僕はただ一人深いプールの底に座りつづけていた。温かい水と柔らかな光、そして沈黙。そして、沈黙……。 @1973年のピンボール Dẫu bao tháng năm qua, vẫn chỉ có mình tôi tiếp tục ngồi dưới đáy hồ bơi sâu. Làn nước ấm và ánh sáng yếu ớt, thế là tĩnh lặng. Thế là tĩnh lặng... - trích từ "Pinball 1973"

Trích đoạn "Hãy nghe gió hát" (Kaze no uta wo kike)

~ Mấy từ in nghiêng-đậm là mấy từ mình không biết và mới tra ~ 僕がこの手紙を受けとったのは昨日の3時過ぎだった。 Lúc mình nhận bức thư nay đã là hơn 3 giờ chiều hôm qua. 僕は 局 の喫茶室でコーヒーを飲みながらこれを読んで、夕方仕事が終ると港まで歩き、山の方を 眺めて み たんだ。 Trong lúc uống cà phê ở phòng trà chỗ thâu âm , anh đã đọc nó. Xong việc buổi chiều tà là mình đi bộ ra bến cảng và hướng mắt về phía núi xem sao. 君の病室から港が見えるんなら、港から君の病室も見える 筈 だものね。 Nếu từ phòng bệnh của bạn có thể nhìn ra được bến cảng thì từ cảng chắc cũng có thể thấy được phòng bệnh của em. 山の方には実にたくさんの 灯り が見えた。 Thực ra anh đã nhìn thấy rất nhiều ánh đèn ở hướng núi. もちろんどの灯りが君の病室のものか はわからない。 Chắc chắn là anh không biết ánh đèn nào là từ phòng bệnh của em. あるものは 貧しい 家の灯りだし、あるものは大きな 屋敷 の灯りだ。 Có cái là đèn nhà nghèo , có cái là đèn toà nhà nào lớn đây. あるものはホテルのだし、学校のもあれば、会社のもある。 Có cái là đèn khách sạn, nếu có đèn trường học thì cũng có cả đèn công ty nữa. 実にいろんな人が それぞれに生きてたんだ、と僕は思った。 Anh đã nghĩ đúng là có rất nhiều người đang sinh s...