~ Mấy từ in nghiêng-đậm là mấy từ mình không biết và mới tra ~
僕がこの手紙を受けとったのは昨日の3時過ぎだった。Lúc mình nhận bức thư nay đã là hơn 3 giờ chiều hôm qua.僕は局の喫茶室でコーヒーを飲みながらこれを読んで、夕方仕事が終ると港まで歩き、山の方を眺めてみ たんだ。Trong lúc uống cà phê ở phòng trà chỗ thâu âm, anh đã đọc nó. Xong việc buổi chiều tà là mình đi bộ ra bến cảng và hướng mắt về phía núi xem sao.君の病室から港が見えるんなら、港から君の病室も見える筈だものね。Nếu từ phòng bệnh của bạn có thể nhìn ra được bến cảng thì từ cảng chắc cũng có thể thấy được phòng bệnh của em.山の方には実にたくさんの灯りが見えた。Thực ra anh đã nhìn thấy rất nhiều ánh đèn ở hướng núi.もちろんどの灯りが君の病室のものか はわからない。Chắc chắn là anh không biết ánh đèn nào là từ phòng bệnh của em.あるものは貧しい家の灯りだし、あるものは大きな屋敷の灯りだ。Có cái là đèn nhà nghèo, có cái là đèn toà nhà nào lớn đây.あるものはホテルのだし、学校のもあれば、会社のもある。Có cái là đèn khách sạn, nếu có đèn trường học thì cũng có cả đèn công ty nữa.実にいろんな人が それぞれに生きてたんだ、と僕は思った。Anh đã nghĩ đúng là có rất nhiều người đang sinh sống cuộc sống của họ.そんな風に感じたのは初めてだった。Lần đầu anh cảm thấy như thế đấy.そう思うとね、急に涙が出てきた。Nghĩ vậy đó, tự dưng nước mắt trào ra.泣いたのは本当に久し振りだった。Thực tình là lâu lắm rồi mới khóc.でもね、 いいかい、君に同情して泣いたわけじゃないんだ。Nhưng mà, nghe nè, anh khóc là không phải vì đồng cảm với em đâu ha.僕の言いたいのはこういうことなんだ。Điều mình muốn nói là điều này.一度しか言わないからよく聞いておいてくれよ。Mình chỉ nói một lần thôi nên hãy nghe cho kỹ nhé.
僕は・君たちが・好きだ。
Mình-yêu-các-bạn.
あと10年も経って、この番組や僕のかけたレコードや、そして僕のことをまだ覚えていてくれたら、僕のいま言ったことも思い出してくれ。Mười năm sau, nếu mọi người còn nhớ đến chương trình này hay những đĩa nhạc mình đã phát rồi nhớ về mình, hãy nhớ luôn nhưng điều mình nói bây giờ nhé.
彼女のリクエストをかける。エルヴィス・プレスリーの「グッド・ラック・チャーム」。この曲が終ったらあと1時間50分、またいつもみたいな犬の漫才師に戻る。Mình sẽ phát theo yêu cầu của cô ấy, bài “Good Luck Charm” của Elvis Presley. Sau khi em nó kết thúc, hãy còn 1 giờ 50 phút nữa, mình sẽ trở lại là thằng tấu hài (manzaishi)* như chó giống mọi khi.
御清聴ありがとう。Cám ơn tất cả đã chú ý lắng nghe.
* Manzai (mạn tài): nghệ thuật đứng kể chuyện hài truyền thống kiểu Nhật. Manzaishi (mạn tài sư) là nghệ sỹ thực hiện manzai.
Nhận xét
Đăng nhận xét